Tự Do Bao Chí

3 tháng 5 – 2011 – Ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới

Mò mẫm làng báo chí

 Nhân ngày Tự Do Báo Chí Thế Giới – tôi lục tìm trong kho lưu trữ những bài viết về đề tài này.

 Xin giới thiệu tới các bạn một bài viết cũ nhưng vẫn còn rất mới.

 TNT

 “… Nếu bắt tôi phải quyết định chọn giữa một chính phủ không có báo chí hay báo chí mà không có chính phủ thì tôi sẽ không do dự lấy một phút khi quyết định lựa chọn điều thứ hai ” tổng thống đời thứ ba của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Thomas Jefferson đề cao vai trò truyền thông bằng một kiểu ví von rất “Mẽo” như vậy cách đây 220 năm. Và 50 năm sau đó một tờ báo đã dám miệt thị tổng thống rằng “… ngôn ngữ của Jackson là thứ ngôn ngữ của kẻ chuyên chế… Tham vọng là tội ác của ông và ông sẽ bị trừng phạt vì nó… sớm muộn ông sẽ phải trả lại những gì ông đã kiếm chác được…”  Vào thời đó ở xứ Đại Việt – Việt Nam những khái niệm “chính phủ” “báo chí” chưa hề xuất hiện. Cho đến hôm nay cách nhìn báo chí của nước Mỹ vẫn không thay đổi nhiều. Nhưng ở Việt Nam kể từ tờ Gia Ðịnh báo ra đời cách đây ngót gần thế kỷ rưỡi đã có những biến đổi kỳ diệu dù mới thiên về hình thức. Duy có điều ở Việt Nam hiện nay báo chí và chính phủ tuy hai mà một. Nhưng không thể vì không có báo chí tư nhân mà có thể để làng báo bao năm nay tiếp tục mang cái vẻ “bình chân như vại” nửa như những cơ quan công quyền nửa giống mậu dịch bán hàng thời bao cấp. Theo lời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng việc “không

 Ðiều này có nghĩa ta cũng cần dự liệu sớm thời điểm khi “điều kiện” cho phép để khỏi lâm vào cảnh “nước đến chân mới nhảy”. Trên cả nước có khoảng 600 tờ báo tạp chí 60 đài phát thanh truyền hình cùng 12000 nhà báo. Ngoài ra còn có sự xuất hiện của một số báo điện tử báo ảnh nhiều kênh truyền hình cùng những sô giải trí clip quảng cáo. Mặc dù chuyện tham nhũng tội phạm oan trái của người dân… được đưa thoải mái hơn nhưng những yêu cầu đổi mới căn bản về chất dường như vẫn chập chờn lúc tiến lúc lùi. Báo chí nói tới những trì trệ tiêu cực của mọi ngành địa phương nhưng có mấy khi làng báo tự kiểm tự nói về mình? Trong bài viết ngắn này tôi thử mày mò thâm nhập để khơi gợi chút gì hòng giúp những người đang nắm cái vũ khí được mệnh danh là “quyền lực thứ tư” này có ít phút nhìn lại mình.

1. Mạnh

  • Ðóng vai trò rất quan trọng trong phòng chống tiêu cực tham nhũng. Thậm chí trong mắt người dân báo chí dường như chiếm vị trí chính yếu trên mặt trận này.
  • Quần chúng đặt tin tưởng vào báo chí hơn những năm trước rất nhiều trong việc bảo vệ quyền lợi cho họ.
  • Thông tin nhanh chóng đa dạng. Nhờ tốc độ phát triển của công nghệ tin học đặc biệt là internet mà việc tiếp nhận trao đổi phản hồi giữa các báo với bên ngoài và với độc giả vô cùng thuận lợi.
  • Nhờ nền kinh tế thị trường phát triển tận dụng được quảng cáo để tăng nguồn thu và nhờ vậy tạo được diện mạo sống động hơn (đặc biệt phía Nam).
  • Phát triển khá nhanh về giải trí (chủ yếu ở báo hình).
  • Chính phủ đã phải dựa vào báo chí rất nhiều để nắm bắt những hiện tượng “không ổn” ở các ngành địa phương trong những văn bản pháp luật.

2. Yếu

  • Luật Báo chí  :
    • Vẫn còn coi nhẹ tiếng nói của nhân dân. Ví dụ trong Điều 1 câu “là diễn đàn của nhân dân” được đặt cuối cùng sau “cơ quan ngôn luận của các tổ chức… cơ quan…”; Điều 6: “… làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân” cũng được đặt sau thứ yếu so với nhiều nhiệm vụ quyền hạn khác.
    • Chưa có biện pháp chế tài cụ thể về nhiều hành vi vi phạm từ quyền tự do báo chí của công dân… cho đến việc bảo vệ nhà báo. Ví dụ trong Điều 5 khoản 2 có ghi rõ: “Đăng phát sóng tác phẩm ý kiến của công dân; trong trường hợp không đăng phát sóng phải trả lời và nói rõ lý do”. Nhưng trên thực tế thì điều khoản này thường bị vi phạm.
    • Nhiệm vụ quyền hạn mới chỉ là “thông tin” “tuyên truyền” “phản ánh” “phát hiện” chứ không thấy có “phản biện”. Ðặc biệt với những vấn đề như “đường lối chủ trương chính sách pháp luật” thì chỉ là “tuyên truyền phổ biến” trong khi lẽ ra phản biện phải là một thế mạnh của báo chí đáp ứng nhu cầu vô cùng quan trọng cho xã hội đang trong bước chập chững thay đổi mô hình kinh tế hội nhập với thế giới. Trong Luật sửa đổi 1999 có bổ sung thì cũng vẫn rất “yếu”. Theo luật này báo chí chỉ nhằm “góp phần xây dựng và bảo vệ” chứ không có truyền đạt đòi hỏi (mệnh lệnh thông qua Quốc hội trưng cầu dân ý) của nhân dân nhân sĩ trí thức dư luận quốc tế để sửa đổi hoàn thiện huỷ bỏ. Hơn nữa trong phần sửa đổi về nhiệm vụ quyền hạn trong luật 1999 sau câu “Thông tin trung thực về tình hình trong nước và thế giới” lại có thêm đoạn “phù hợp với lợi ích của đất nước và nhân dân”. Vì “phù hợp với lợi ích” ở đây là bất định tính dễ bị diễn giải tuỳ tiện để kết án việc “thông tin trung thực” phần sửa đổi khó hiểu này đã “bó” người làm báo nhất là trong nhiệm vụ chống tiêu cực đang vô cùng quan trọng mà nguy nan hiện nay.

 

Ngoài ra còn rất nhiều chi tiết (quá chung chung mơ hồ bất hợp lý) đáng nói cần sửa một cách căn bản thậm chí cần có một luật Báo chí hoàn toàn mới nhưng trong phạm vi một bài báo không thể nêu hết.

  • Xuất phát từ việc ngay những văn bản pháp luật còn coi nhẹ vai trò quần chúng trong mối tương tác với báo chí vai trò thẩm định phản biện của giới trí thức học giả với đường lối chính sách nên trên thực tế nhiệm vụ minh hoạ tuyên truyền… “từ trên xuống” của nhà nước vẫn được đặt nặng và coi nhẹ việc phản ánh nhiều chiều của dân chúng “từ dưới lên” (không khác mấy cái thời “đêm trước đổi mới”) trong khi lẽ ra việc sau phải quan trọng hơn. Ðiều này thực chất trái với chủ trương đường lối “lấy dân làm gốc” của đảng. Hậu quả thấy rõ là xa rời dân không đặt quyền lợi của dân lên trên hết sai lầm trong đường lối chủ chương chính sách pháp luật v.v…
  • Cơ chế:
    • Cơ quan quản lý nhiều tầng nấc chồng chéo thiếu kiến thức kinh nghiệm chuyên ngành mà luật lại chưa hoàn thiện nên dễ nảy sinh những cản trở. Chẳng hạn do phải lệ thuộc nhiều vào cơ quan chủ quản đặc biệt về tổ chức và chuyên môn nên dễ bị ảnh hưởng tới tính khách quan và gặp khó khăn trong phát triển. Hơn nữa báo chí hay phải làm công cụ tô hồng danh tiếng bao che sai trái yếu kém cho ngành địa phương thậm chí cả cá nhân lãnh đạo.
    • Địa vị độc quyền thông tin làm nảy sinh thói ù lì chủ quan không đổi mới cải cách hành chính mạnh mẽ.
    • Còn bị nhiều hạn chế không đáng có về quảng cáo kinh doanh thu chi tài chính mức lương nhuận bút công tác phí vừa thấp lại cứng nhắc không khuyến khích được năng lực nỗ lực cá nhân cũng như chất lượng tin bài. Ðiều này dễ khiến nảy sinh những tiêu cực ngay trong đội ngũ nhà báo. Ðã thế lại thêm những tốn kém dàn trải vì mỗi ngành địa phương đều phải có báo riêng (được bao cấp và vì vậy hiệu quả rất thấp). Sắp tới báo chí sẽ còn phải đối mặt với rất nhiều thách thức như chi phí bản quyền áp lực giá cả cạnh tranh cắt giảm biên chế ngân sách người đọc có nhiều chọn lựa và đòi hỏi cao hơn v.v… trong khi ta hoàn toàn chưa có một chiến lược cho mô hình tổ chức hoạt động thích ứng với một nền kinh tế thị trường ngoài dự định to tát mà “rỗng” là thành lập những “tập đoàn báo chí”.

Tóm lại hầu như báo chí vẫn đang phải tự “bơi” trong hoàn cảnh ngày càng khắc nghiệt.

  • Phong cách:
    • Đa số báo vẫn theo lối mòn cũ kỹ hoặc nặng tính tuyên truyền áp đặt xơ cứng khô khan hoặc hàn lâm mà ít quan tâm tới tính hiện đại tính thẩm mỹ từ hình thức (logo slogan dàn trang phối màu ảnh quảng cáo hình ảnh truyền hình…) cho tới cách đưa tin bình luận bằng lối văn mô phạm sáo rỗng khoa trương ồn ào thậm chí uốn éo giả dối (việc phóng sự phỏng vấn bị sắp đặt dàn cảnh đẹp mắt mà cứng nhắc học thuộc trước câu trả lời… rất phổ biến) thiếu hẳn chất nhẹ nhàng mộc mạc bình dân hài hước nhưng tinh tế để gần với đại đa số quần chúng độc giả trong khi thị hiếu đọc nhu cầu giải trí kiến thức tổng quát của họ đã có những thay đổi ghê gớm chỉ trong khoảng mươi năm qua điển hình là đọc nghe xem trực tuyến.
    • Bị nhiều vấn đề được coi là “nhạy cảm” “vùng cấm” “huý kỵ” chi phối (liệu đây có phải là “tàn dư phong kiến”?) tạo áp lực vô hình nằm ngoài quy định của luật pháp mà không dám mạnh dạn thay đổi (ví dụ chuyện đưa tin các vị lãnh đạo phải nhiều phải là trang nhất đầu giờ thời sự).
  • Ý thức “tự kiểm duyệt” vẫn đè nặng tầng tầng lớp lớp từ khâu viết tới khâu biên tập và duyệt. Người viết luôn phải rón rén “nhìn trước ngó sau” nặn bóp câu chữ rào đón ý tưởng vừa làm vừa sợ. Món ăn tinh thần tới người đọc do đó chẳng còn thơm ngon hương vị tự nhiên nữa. Điều này một phần do “quán tính” phần vì những lối suy diễn văn bản luật không thống nhất tuỳ tiện và lối quản lý chồng chéo không rõ ràng. Kết quả là chất lượng bài vở điều kiện vận hành tờ báo kể cả cảm hứng sáng tạo v.v… đều bị ảnh hưởng.
  • Chưa tận dụng ưu thế của công nghệ hiện đại và lối làm việc khoa học: từ việc thiết kế dàn trang chế bản biên tập thu thanh dựng hình thu thập thông tin lưu trữ truy xuất dữ liệu đến cách vận hành quan hệ nội bộ bên ngoài… Vì vậy việc tổ chức hình thức nội dung tin bài của nhiều báo đài còn rất nghèo nàn thô mộc ngô nghê luộm thuộm tạm bợ chắp vá chưa thay đổi mấy so với hàng chục năm trước.
  • Ít chịu học hỏi quốc tế. Nếu so sánh một tờ báo một kênh truyền hình của ta với nước ngoài là quá rõ. Trong khi đó ta chỉ cần “bắt chước” họ qua kênh truyền hình mạng internet là cũng được khá nhiều chưa nói đến việc bỏ tiền sang tận nơi học. Đơn cử: chỉ xem những Talk Show trên CCTV9 của Trung Quốc cũng đủ thấy “thèm” chưa kể đến “Larry King Live” trên CNN.
  • Vai trò của hội ngành nghề rất mờ nhạt:
    • Chưa hề thấy một vụ nào do hội đứng ra bênh vực hay giúp khởi kiện để bảo vệ những nhà báo toà báo bị cản trở tác nghiệp.
    • Báo của hội yếu cả về lượng lẫn chất. Trong khi đó trên mạng lại có hẳn một trang báo vô vụ lợi của cá nhân chuyên trao đổi về nghề báo. Thiết nghĩ đây là điều hội cần tự vấn.
    • Hội chỉ vừa như thứ “trang sức” vừa là sân sau “bãi hạ cánh” của các cơ quan quản lý.

Khi được hỏi về những thách thức trước thực tế là những trang báo điện tử ở nước ngoài nhiều lợi thế hơn hẳn trong nước nhưng lại có những thông tin không có lợi thậm chí chống lại nhà nước Việt Nam đang ngày càng phát triển trong khi đó quản lý chặt thông tin trên báo trong nước thì dễ nhưng trên trang web ở nước ngoài thì không thể nên rõ ràng là biện pháp quản thông tin đang trở nên ít tác dụng thứ trưởng bộ Văn hoá – Thông tin Đỗ Quý Doãn nói: “… điều quan trọng nhất chính là chúng ta giáo dục ý thức và thẩm mỹ của con người. Để chính mỗi con người có thể lựa chọn đúng nhất việc làm của họ.” Ông còn nói “Ta không thể ngăn chặn mà ta phải đưa ra quan điểm của ta có tính thuyết phục cao…” Rồi ông gợi ý “… phương thức cung cấp thông tin của nhiều trang web tờ báo hay những hãng thông tấn nước ngoài là rất giỏi… Chính vì thế mà chúng ta chủ trương cải tiến cách đưa tin giảm bớt những thông tin lễ tân”. [5] Ðây là một cách nhìn nhận khá khoáng đạt mạnh dạn ít nhiều góp phần khích lệ các nhà báo cũng là lời tự nhắc nhở nhau của những nhà quản lý cần tránh sử dụng biện pháp cứng nhắc dễ thành phản tác dụng hạn chế vai trò của truyền thông. Nhưng đã 3 năm trôi qua có vẻ như những ý kiến cởi mở đó vẫn chưa được thể hiện mấy trên thực tế. Chúng ta cần những đồng thuận cao hơn rộng rãi hơn nữa.

Nguyễn Hữu Vinh

(Nguồn 2007 talawas)

 

Louis City

Tự do báo chí

Thực sự thì ở Việt Nam báo chí vẫn bị chính phủ kiểm soát và chi phối nhiều quá!

 

the emerald - the k park

Gina

hotels hotels auto insurance quotes complete product save affordable car insurance insurance insurance cheap insurance profit health auto insurance information about

Loryn

senza di lui saremo

senza di lui saremo molto meglio. per una volta trovo qualcosa con cui concordare con Rezacerto che se Ahmadinejad viene accusato dai &#i802;democrat2ci” di essere un ebreo e una marionetta degli USA, gli iraniani sono messi veramente molto ma molto male.Francesco

Bubbie

Kudos to you! I hadn

Kudos to you! I hadn't thuoght of that!